Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

LỄ TRẦU CAU, ĐÍNH HÔN HỒNG ĐÔNG - THU TRANG

Theo quan hiệm truyền thống: Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Đây là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành "vợ sắp cưới" của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con. Trong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.


Ngày 19 tháng 8 năm Nhâm Thìn (2012) đúng 10h15, lễ đính hôn của chú rể Chu Hồng Đông và cô dâu Lê Thu Trang đã diễn ra theo đúng phong tục tập quán của người Việt, dưới sự chứng kiến của quan viên hai họ, bạn bè, đồng nghiệp và lối xóm đôi bên ...


Sau lễ gia tiên tại nhà gái, từ nay bắt đầu một trang mới trong cuộc đời của hai người. Cầu chúc những bình an, hạnh phúc cho đôi bạn trẻ tìm thấy nhau sau bao ngày mong đợi.


Cô dâu và chú rể mới ghi hình với các "nam thanh" họ nhà trai


Cô dâu và chú rể mới ghi hình với các "nữ tú" họ nhà gái


Trở thành đôi vợ chồng sắp cưới ...


Làm lễ gia tiên, báo cáo với tiên tổ bên nhà gái về sự sắp thành hôn của  cô dâu và chú rể


Lưu hình với bố mẹ hai bên ...


Bản quyền bài và ảnh: Chu Hồng Đông


ẢNH CƯỚI HAI VỢ CHỒNG HỒNG ĐÔNG - THU TRANG

Hai vợ chồng ngồi đợi đến lượt để đi chụp hình lưu niệm ngày cưới


Hạnh phúc bên em mỗi phút giây ...


Mơ màng cùng em hoài niệm những phút giây còn là người tình, người yêu của nhau ...


Cùng em bước đi trên con đường dài sắp tới ... Đường dài nhưng hạnh phúc được đồng hành cùng em trong mỗi bước đi.


Bờ cỏ non, nơi đưa mình đến những bến bờ hạnh phúc


Và kiêu sa tình mình như những cánh sen hồng

Hạnh phúc và những nụ cười


Hoài niệm về một đám cưới truyền thống


Với anh nơi ấy bình yên ...


Kỉ niệm chẳng bao giờ quên những phút mình đã, đang và sẽ giành cho nhau

Bản quyền bài và ảnh: Chu Hồng Đông

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

NGÀY VUI

NIỀM VUI CỦA NÓ ...
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 8 năm 2012. 9h sáng.


Sau một đêm mưa, Thái Nguyên dịu dàng như vừa được tắm mát vậy. Sau một đêm say, nó tỉnh dạy đi làm còn chếnh choáng. Nhưng hôm nay là một ngày đặc biệt với nó. Ngày nó nhận được Quyết định chính thức từ Sở Nội vụ bổ nhiệm nó vào ngạch công chức 01.003. Quyết định số 664/QĐ-SNV ký ngày 3 tháng 8 năm 2012.
Nó cầm tờ Quyết định trên tay tủm tỉm cười thầm như những lần nó vui. Không biết trong đầu nó lúc này nghĩ gì nhỉ? Cảm ơn ba mẹ sinh ra nó chăng? Cảm ơn lãnh đạo cơ quan thời gian qua đã tạo điều kiện cho nó có thời gian ôn thi và thử sức chăng? Cảm ơn các anh chị, em đồng nghiệp và bạn bè suốt một thời gian vừa qua luôn động viên nó ôn và thi dù kết quả là tốt hay xấu chăng? Không biết nữa, hạnh phúc trong nó vỡ òa rồi. Có lẽ là tất cả những điều ấy.
Quay về với Tết, nó đề ra 3 mục tiêu cho năm nay: Kết nạp Đảng – Công chức – Lấy vợ. Lần lượt hai thứ mục tiêu ấy nó đã làm được rồi, chỉ còn hạnh phúc riêng thôi. Đúng là duyên số. Mà nó luôn buồn về chuyện duyên số. Trông nó cũng không đến nỗi nào nhưng ông trời cho nó toàn những cô đơn cả?!
Quay về với mấy tháng trước, Khi David luôn động viên nó thi công chức bằng những chỉ tiêu khiến đôi khi nó nản. Nó nản vì David luôn kỳ vọng vào nó quá nhiều mà nó thì biết sức mình hữu hạn. Nó vẫn trêu David, thi công chức mà trượt nó về đi buôn hoa quả hay cháo lòng, mà nó chọn ngồi bán ngay cổng UBND tỉnh để mỗi lần David cưỡi xe ô tô qua đều phải rỏ nước mắt vì thương hại nó !? Tất nhiên những điều ấy là nói cho vui vì nó không phải là con người của thị trường, nó không có duyên bán hàng và càng không biết gì về thị hiếu và marketing cả.
Thế là hôm nay thêm một mục tiêu nó đề ra trở thành hiện thực. Bình thường nó ít nói về nó lắm nên khi nó nói nó đề ra 3 mục tiêu trong năm Nhâm Thìn này mà lần lượt các mục tiêu ấy nó đều không làm được thì nó sẽ suy sụp mất. Nó vốn nhậy cảm mà.
Một ngày thu thật đặc biệt với nó. Trước mắt nó còn phải phấn đấu rất nhiều trong cả công tác và trong cả cuộc sống nữa. Mà tôi tin nó làm được vì nó rất chuyên cần, hiền lành, phúc hậu...
Chu Hồng Đông

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

XIN CHÀO TUỔI 30 !

VIẾT CHO NGÀY 30 NĂM TRƯỚC TÔI CHÀO ĐỜI ...
30 tháng 7 năm 2012, tôi bước vào tuổi 30 của đời người. Mẹ vẫn nhắc lại ngày sinh ra tôi, một ngày mùa hè đặc biệt. Ngày 30 tháng 7 năm 1983, một ngày mưa gió, thành phố Thái Nguyên ngập trong bể nước.... Ngày ấy, theo lời mẹ kể, chín tháng trong bụng, tôi hiền như cục thịt, không hay ngọ nguậy như cái cảm giác mà nhiều bà bầu hay cảm nhận được về đứa con yêu của mình. Một tháng sau khi rời quê về thành phố này sống, mẹ một mình đi trạm y tế thành phố để sinh tôi. Ngày ấy Thái Nguyên mưa lụt. Bố đi công tác. Bố làm nghề lái xe cho sếp mà. Ở nhà một mình mẹ ôm bụng đi đẻ. Tôi chào đời không tiếng khóc vì "tràng hoa cuốn cổ" làm mẹ càng sợ sinh ra một bọc thịt. Sau vượt cạn mẹ chồm dạy nhìn tôi, sờ từng chi tiết nhỏ của đứa con vừa chào đời. Rồi thằng bé cũng o oe, tiếng khóc đầu tiên, báo hiệu sự sống, nó kêu như con mèo con vậy, mẹ vẫn hay kể lại thế mỗi lần kể về cái cảm xúc đầu tiên được làm mẹ. Mẹ luôn nhắc tôi may mắn sống được là nhờ có cô bác sỹ đỡ giỏi tên Phấn gì đó. Sau này, có đôi lần mẹ muốn tìm lại cô bác sỹ ấy để cảm ơn vì đã cứu sống tôi khi bị ngạt, nhưng cô bác sỹ tên Phấn đã chuyển công tác hay về hưu rồi, không gặp được.
Ngày bé, tôi không quen sinh nhật có bạn bè bên cạnh. Thường đó chỉ là ngày giành cho gia đình tổ chức. Vì tháng 7 vẫn trong kỳ nghỉ hè mà. Lớn lên cũng vậy, sinh nhật thường là ngày cả nhà tụ tập ăn uống, ít bạn bè nhắc tới. Và nữa, những ngày sinh nhật đã qua ấy hầu hết cũng là những ngày Thái Nguyên có mưa lớn.
Tôi đã đón tuổi 30 thế nào?. Hì. Tôi là một người sống dung dị. Luôn tìm những thứ nhẹ nhàng, thanh bình theo cách mà người ta hay nói là "sống chậm". Chính thế nhiều khi những thứ đơn giản, không cầu kỳ, khoa trương lại làm tôi hạnh phúc. Buổi sáng hôm ấy, tôi dạy sớm như mọi ngày, đi làm. Đầu tiên là tin nhắn của chị Thịnh. Chị luôn giành cho tôi những bất ngờ trong cuộc sống. Hai chị em thân nhau vì có cùng sở thích đi chùa cầu An... Rồi thứ nhì là chị Hường gọi điện chúc mừng. Điều này bất ngờ thật! Làm sao chị biết được ngày sinh của tôi cơ chứ! Hai chị em thân nhau, nhưng không bao giờ hỏi nhau về tuổi tác và ngày sinh nhật cả - vì cả hai đều sợ đụng vào cái tuổi không còn trẻ nữa. Nhưng chị bảo tình cờ, hôm xem điểm thi công chức của tôi nên nhớ ra ngày sinh. Đúng là bà chị tâm lý thật. 15 phút với bao điều chúc và câu chúc cuối cùng vẫn là mong tôi sớm tìm được một nửa còn lại cho mình. Trời! chị bao dung thật, không lo cho mình chỉ lo cho đám em...3h chiều, anh Thành gọi điện chúc mừng sinh nhật. Anh bảo không có tiền nên tặng tôi một trầu Bia Pháp (viết lại theo nguyên văn câu nói của anh Thành) và bằng mọi giá tôi phải nhận món quà ấy, dù 3h chiều đang là giờ làm việc, nếu không có việc quan trọng thì cũng ít ra khỏi cơ quan vào giờ này. Nhận lời tôi đã ra quán 20 phút để  nhận món quà đặc biệt ấy. Say mất, bia ngon dễ uống nhưng nặng gần như rượu ... Quay về cơ quan làm việc, rồi trời đổ mưa to như trút. Ngày 30 tháng 7 mà, ngày ấy thường là mưa lớn theo kinh nghiệm của tôi. Mẹ dặn về ăn cơm vì mẹ chuẩn bị cơm từ chiều. Sinh nhật năm nào mẹ cũng làm một mâm cơm có các món ăn tôi thích. Hì, mà sở thích của tôi thì chẳng gì đặc biệt toàn những món dễ làm và đồng quê cả ...
8h tối mưa chưa dứt nhưng mấy chị em hàng xóm nhất định lôi nhau đi hát mừng sinh nhật và thế là một tối sinh nhật vui vẻ với nhiều bạn bè diễn ra để đón tuổi 30 của tôi bằng một mini show văn nghệ. 30 - Tuổi mà các cụ bảo "đang xoan"?! Bạn Trang và em Huyền thật cẩn thận khi là người mang đến cho tôi chiếc bánh ngọt với dòng chữ "Hello tuổi 30 CHĐ". CHĐ (xê - hát - đê) ký hiệu mà những người quen hay dùng để đặt nickname cho tôi Chu Hồng Đông. Cuộc hát tàn thật muộn, khoảng 11h đêm. Nghĩa là cách nay 30 năm, 1 giờ đồng hồ nữa tôi chào đời, vì tôi sinh đúng 12 giờ đêm mà. Đêm về nhà, nằm say rượu. Trong đầu hiện về những kỉ niệm thật đẹp của 30 năm đã qua. 30 năm ấy có gần 15 năm tôi cầm bút viết, sáng tác những thứ mà tôi thích, và giờ là trang nhật ký mạng, blog này. 30 năm ấy những gì vui, những gì buồn, những gì thất bại, những gì thành công hình như tôi đã đều trải qua cả. Có thể nó là bình thường với nhiều người nhưng trong tôi đó là dấu ấn. Dấu ấn của 30 năm cuộc đời.
Hậu sinh nhật.
Trưa ngày 31 tháng 7, anh Thắng gọi điện:
- Chúc mừng sinh nhật thằng em, anh đợi chú đến 10h đêm mà không mời anh đi uống rượu ?
- Ha ha. Hai anh em cùng sinh nhật trong tháng 7 nên hay trêu nhau.
Chiều ngày 31 tháng 7, Anh Đức gọi vào giờ gần hết chiều, giọng vô cùng hình sự:
- Chú Đông à, anh hỏi cái. Chú có quen ai sinh vào ngày cuối cùng của tháng Bẩy không?
- Có, em biết một thằng nhưng nó sinh ngày hôm qua ....
Hai anh em cùng phá lên cười ha ha vì sướng. Anh Đức rủ đi uống bia hậu sinh nhật nhưng thú thật trong người rất mỏi nên tôi hẹn anh dịp gần nhất. Cuộc sống đơn giản và hạnh phúc là thế, đôi khi chỉ cần một sự động viên nhưng mang lại bao phấn trấn qua một tiếng cười ....
30 rồi nhỉ? còn bao việc chưa làm được nữa của đời người. Tôi thầm đếm trong đầu những dự định ấy và xây dựng cho mình một kế hoạch nhỏ, kế hoạch của tuổi 30. Và để thời gian, chỉ có thời gian thôi trả lời cho những dự định ấy. Hiện thực hay Mơ hồ? Thực tế hay Viển vông? Lãng mạn hay Trần tục? ... hay dung hòa cả hai thái cực ấy để mỗi bước đi trên đường đời này không còn cảm giác quá nặng nề.
CHĐ viết cho ngày sinh nhật cuối tháng 7 năm 2012. 


Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2012

KỈ NIỆM ĐỊNH HÓA HÈ 2012

QUÊ HƯƠNG NẾU AI KHÔNG NHỚ SẼ KHÔNG LỚN NỔI THÀNH NGƯỜI …
“Qua nửa đời phiêu dạt, con lại về úp mặt vào sông quê” câu hát ấy đã bao lần để lại trong tôi xúc cảm. Và hôm nay, sau 3 năm chưa về lại quê hương của “rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt” tôi lại có dịp trở về với những gì thân thương nhất. Cái mà người ta gọi là “Quê hương mỗi người chỉ một” trong một chuyến đi với đầy đủ những trải nghiệm giữa núi rừng Việt Bắc thân thương và hòa cùng nhịp đập của người dân vùng núi. Điểm dừng chân đầu tiên là con suối vào bản. Con suối với làn nước trong vắt nhìn rõ từng hòn sỏi cuội, từng đàn cá li ti bơi lội và âm thanh đặc trưng róc rách, gợi nhớ bao kỉ niệm của những ngày thơ ấu, trốn nhà ra suối tắm …

“Hôm nay về thăm nhà, dừng chân lối quen xưa. Đây vẫn cây cầu cũ, kia mấy rặng tre ngà” … Trên cây cầu đá cũ, ngồi hất từng làn nước mát tung bay thật đẹp. Quê nhà đã rất gần.

Trời nắng quá, núp dưới tán cây cọ che bóng mát và tranh thủ ghi hình làm kỷ niệm và ngắt những lá cọ làm ô che nắng, râm mát đường ta đi …
Đường lên bản gặp chú ngựa đang thồ hàng. Phương tiện duy nhất hữu dụng khi vượt những con đèo dựng đứng về bản ….

Hết qua suối lại qua một khe nước … Nguồn nước sinh hoạt duy nhất của bà con vùng cao

Về tới nhà, bắt tay vào công việc như người nông dân thực sự. Nắng hè oi ả, nhưng công việc luôn mang lại niềm vui, mệt nhưng trên môi vẫn nở những nụ cười …

“Thủa còn thơ ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ. Ai bảo chăn trâu là khổ. Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao”. Hăng say phơi ngô tranh thủ với nắng hè …

Ghi thêm vào hành trang trở thành người một trải nghiệm sống trên vùng quê hương Định Hóa, Thái Nguyên
Từ đây còn 39 km đường bộ nữa là đến đất Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Hết một ngày với vùng cao Định Hóa, quà quê mang về thành phố là hai trái bưởi đầu mùa xanh ngắt vỏ. “Quê hương là chùm khế ngọt”

Trốn xa phố phường nhộn nhịp đông vui, phút hòa mình với thiên nhiên miền núi, đã để lại trong tôi nhiều kỉ niệm mà sau này khó phai dấu trong hành trang vào đời. Hay nói như nhà thơ ĐTQ là “quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” …
Bài và ảnh: Chu Hồng Đông
Định Hóa, Thái Nguyên, ngày 15 tháng 7 năm 2012.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

THƯ GỬI VỀ ANH NGƯỜI CHIẾN SỸ NƠI TUYẾN ĐẦU ...

"Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.."

(Nguyễn Khoa Điềm)
Tôi và thế hệ 8X của tôi, những người con sinh ra sau thời chiến, không biết đến loạn lạc, không biết đến quá nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần. Tuổi thơ của chúng tôi là "ngày hai buổi đến trường". Trưởng thành của chúng tôi là đi làm và cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước. Và tất nhiên trong cảm nhận của lớp chúng tôi "khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi". Đất nước hiện hữu bằng núi, bằng sông, bằng biển và hải đảo. Cái hiện hữu như một tất yếu vậy "có rồi" theo cách viết nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Thế mà hôm nay, lại một lần nữa khi xem trang mạng Dân Trí (Báo điện tử của TW hội khuyến học Việt Nam) tôi lại được nghe: Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc cho biết đã phê chuẩn kế hoạch xây một cầu tàu diện tích 3,3 km2 để làm căn cứ hậu cần cho ngư dân và đón khách du lịch thăm quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Vấn đề tranh chấp trên Biển Đông lại một lần nữa nóng trên các trang mạng.
Tôi không định bàn luận chuyện chính trị ở đây vì trong chiến tranh hay tranh chấp thì chiến thắng luôn thuộc về chính nghĩa, mà chỉ định viết lên đây những dòng cảm nhận nhỏ gửi về anh, những người chiến sỹ đang từng ngày canh giữ biển đảo quê hương. Tôi đặt tựa "Thư gửi về anh, người chiến sỹ nơi tuyến đầu" ...
Các anh, những chiến sỹ trên đảo Trường - Hoàng sa thân mến!
Trường - Hoàng Sa mùa này cũng vào hè như trong đất liền rồi anh nhỉ? Nắng và gió biển chắc mặn mòi hơn khi những đợt nắng hè thiêu trên từng con sóng biển. Đất liền những ngày này tên các anh được nhắc đến nhiều, những chiến sỹ canh giữ biển đảo quê hương bằng nhiều hoạt động lắm. Nơi tôi đang sống, Đoàn thanh niên thì phát động phong trào Viết thư gửi chiến sỹ Trường Sa; Khối các doanh nghiệp thì bắt đầu hành trình đi thăm chiến sỹ trên đảo, thăm các anh ở nhà dàn  DK; Báo và đài phát thanh truyền hình thì dành nhiều trang viết nói về cuộc sống trên biển đảo của các anh, khó khăn nhưng ấm áp tình đồng đội, tình thân giữa đất liền và hải đảo... Có thể nói chưa bao giờ  Trường - Hoàng sa lại gần gũi, thân thương với đất liền như thế.
Nghĩ về sự hy sinh của các anh, bao lần trong tôi dâng lên niềm biết ơn, kính trọng. Đất nước hòa bình độc lập, nhưng các anh vẫn đang từng ngày, từng giờ chắc tay súng, vững vàng ý trí canh giữ biển khơi, giữ gìn biển đảo quê hương, chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Một phần đất, một vùng biển và hải đảo làm nên hình hài của nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Cùng bảo vệ và xây dựng quê hương, chúng tôi những người trẻ sống trên đất liền, đang từng ngày học tập, lao động, cống hiến cho công cuộc xây dựng quê hương đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và luôn sát cách bên các anh "người chiến sỹ nơi tuyến đầu", đặc biệt trong những ngày này, ngày mà tranh chấp trên biển Đông đang "nóng" lên trong khu vực. Xưa ông cha ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước từng tuyên ngôn: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời". Vâng, các anh ạ, chiến thắng luôn thuộc về chính nghĩa đó là quy luật muôn đời mà hai cuộc kháng chiến thần thánh sau này của dân tộc đã thêm một lần minh chứng...
Tôi đi trên phố chiều nay, hệ thống loa truyền thanh đang phát ca khúc: "Mỗi cánh thư về từ đảo xa, anh thường nói rằng Trường Sa lắm xa xôi. Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội yêu thương" và "Không xa đâu Trường Sa ơi, không xa đâu Trường Sa ơi. Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh, vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em"... Xin gửi tới các anh lời chúc sức khỏe, vượt qua những khó khăn, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng mà mẹ Quê hương và Đất nước 4000 năm giao phó, trao trách nhiệm.
Khép lại đôi dòng thương viết gửi các anh, trong tôi hiện lên bốn câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong "Đất nước":
Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời. 

Một lần nữa, vinh danh các anh những người con của quê hương Việt Nam yêu dấu, đang ngày đêm "hóa thân cho dáng hình xứ sở, làm nên Đất Nước muôn đời" từ nơi đảo xa....
Chu Hồng Đông
Viết nhân ngày 30/4/2012

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

THƯƠNG CA MÙA HẠ ...

"Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương ..."
Ai trong thế hệ của tôi đều chẳng một lần ngân nga ca khúc ấy "Nỗi buồn hoa phượng" sáng tác nhạc sỹ Thanh Sơn. Và tự khi ra đời năm 1963 đến nay, "Nỗi buồn hoa phượng" đã trở thành ca khúc làm lòng của bao thế hệ học sinh, dù thời cuộc đã bao lần xoay vần, thay đổi. Và như một sự lựa chọn của lịch sử hay sắp đặt của tạo hóa, những ngày đầu mùa hè tháng tư năm 2012, nhạc sỹ của bài tình ca bất hủ "Nỗi buồn hoa phượng" và những ca khúc trữ tình về mùa hè, về học sinh ... ấy qua đời vì tuổi già, sức yếu và vì căn bệnh tai biến đã hơn một năm qua. Tôi chọn viết một đoạn nhỏ chia tay ông, khi chiều nay, chiều muộn ngày 4 tháng 4 năm 2012 hay tin ông qua đời tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh.
Hè rồi. Thái Nguyên rộ lên nhiều quán nước, quán bia cỏ vỉa hè mà mọi người vẫn hay gọi sang là "văn hóa phố" hay "văn hóa vỉa hè". Và ăn theo dịch vụ ấy là nghề hát dạo. Một thanh niên ôm đàn ghi ta hát, khách qua đường hay người ngồi uống nước, uống bia cỏ nghe vào lòng thường thưởng cho gánh hát vài nghìn tiền lẻ. Chuyện ấy bình thường nhưng lại bất thường với tôi hôm nay. Mệt mỏi với nắng mới mùa hè, mệt mỏi với cái men gan cao đột biến mà tôi đã điều trị thuốc tây lẫn ta cả hơn tháng nay mới có dấu hiệu thuyên giảm. Bác sỹ khuyến cáo không rượu, không bia, không nước ngọt có ga nhưng chịu hoài sao nổi. Mấy anh bạn thân rủ ra phố ngói làm trầu bia cỏ. Thế là nhận lời đi. Quán. Đúng là quán. Ở đây nếu mình ngồi im không nói thì cũng dung nạp được vào đầu nhiều chuyện phiếm. Từ chuyện chính trị, chuyện thâm cung, chuyện lòng, chuyện xã hội ... ôi thì gì cũng có cả. Một chút men là cởi lòng, người nhân cơ hội có men thì nói thật, kẻ thì "chém gió" chẳng chết ai? Rượu với bia rồi mà, ai còn chấp hay để ý làm gì. Trong tôi lúc này men đã bắt đầu có dấu hiệu đủ, vì hình như khả năng uống bia của tôi kém hơn rượu, thì khi ấy gánh hát từ xa tới. Vô tình hay hữu tình, người ca sỹ hát dạo kia lại đang rung lên những câu hát trong "Nỗi buồn hoa phượng" của người nhạc sỹ tài hoa vừa nằm xuống. Sự bình dị trong ca từ của ca khúc đã làm cho nó đến gần với người nghe hơn, dù trong một rạp hát lớn hay đơn giản như tôi đang ngồi trong quán cóc thì "Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn ..." cũng truyền cho người nghe cái cảm giác nhớ thời áo trắng, nhớ trường, nhớ "bạn lòng", nhớ buổi "hẹn nhau lúc đầu" mà dệt thành kỷ niệm để nhớ mãi trong cuộc đời.
Lâng lâng với men say trong tiếng lòng chia tay nhạc sỹ, bài hát ùa về trong tôi bao kỷ niệm, và dù không đang ngồi ở một chốn sang trọng, dù không được trình bầy bởi những ca sỹ nổi tiếng, không có ánh sáng rực rỡ của đèn sân khấu nhưng "Nỗi buồn hoa phượng" qua tiếng đàn và giọng hát dạo kia vẫn đang tỏa sáng một góc nhỏ phố núi như thành phố Thái Nguyên, gây xúc động và rung cảm cho nhiều người, trong ấy có tôi. Sự bình dân làm ca khúc không bao giờ "chết" được mà ngược lại. Càng ngẫm về ca từ, cách gieo vần, đặt nhạc của nhạc sỹ càng thấy nó hay như một bài dân ca vậy. Cảm ơn nhạc sỹ đã giúp tôi và bao người ghi lại "lưu bút ngày xanh" bằng một ca khúc về những ngày hè, xa trường, nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ người thương khi vô tình bắt gặp "sắc thắm như máu con tim" của chùm phượng vỹ nở, mỗi khi thấy hè về.
 Xin vĩnh biệt nhạc sỹ tài hoa của nền tân nhạc Việt. Thanh Sơn - "Người xưa biết đâu mà tìm" ...
Chu Hồng Đông
Thái Nguyên, ngày 4 tháng 4 năm 2012.

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

CHÉN TRÀ ẤM VÀ GIÓ LẠNH CUỐI MÙA ...

Hôm nay là ngày ba tháng ba âm lịch Nhâm Thìn. Thế là đến tháng cuối xuân rồi. Tháng ba. Miền Bắc đang hưởng cái đợt lạnh cuối cùng mà dân gian vẫn gọi là rét nàng Bân. Cái rét mà tạo hóa hay Ngọc Hoàng thượng đế ban cho cô con gái vụng về mang tên nàng Bân, để nàng có được cơ hội thể hiện tình cảm của mình với chồng bằng chiếc áo do chính tay nàng đan bằng tình thương, bằng thời gian và bằng sự cần mẫn. Đó chỉ là câu chuyện sự tích thôi và năm nào đất trời miền Bắc cuối xuân cũng vậy. Thoáng nồm ẩm, hửng nắng vài ngày rồi đùng cái lại rét ... cái rét cuối mùa. Tôi đón đợt lạnh cuối mùa rét năm nay vào đúng dịp Tiết (tết) Thanh minh. Xưa Nguyễn Du trong Kiều có những câu thơ thật đẹp ghi lại khoảng thời gian ấy.
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
Có nhiều cách tổ chức đón tiết thanh minh. Ở một vài vùng trên đất nước dải hình chữ S này người ta thường làm lễ tảo mộ. Mỗi năm một lần, đây là dịp để tu sửa các mộ phần thân nhân và thắp hương tưởng nhớ gia tiên.
Hội Đạp thanh như Nguyễn Du nhắc tới trong thơ Kiều thì ngày này không còn nữa. Đó là dịp để trai thanh nữ tú đi du xuân. Ngày nay công việc bận bịu, dịp du xuân thường được tổ chức ngay cùng tết Nguyên đán, dù ý nghĩa ban đầu của Hội đạp thanh (dẫm lên cỏ) là du xuân khi trời đất bắt đầu ấm lên, theo lịch tiết khí thì đó là khi kết thúc tiết xuân phân.
Với hầu hết các gia đình Việt Nam, dịp này thường làm hai món bánh trôi và bánh chay để thắp hương theo quan niệm về Tết hàn thực của Trung Hoa, dù ở Việt Nam không mang ý nghĩa là để tưởng nhớ hiền sĩ Giới Tử Thôi đời Xuân Thu như theo điển tích trong giã sử Trung Quốc, và cũng không kiêng đốt lửa trong ngày này mà chỉ làm đồ ăn lạnh và đồ chay để mang cúng Phật, cúng gia tiên, thể hiện lòng thành, biết ơn của con cháu với đức Phật và các bậc tiên tổ.
 
Ngày nay thật dễ dàng để mua những bát bánh trôi, bánh chay làm sẵn ở chợ nhưng mẹ tôi vẫn chọn say bột và làm bánh ở nhà, tạo một không khí rất vui, háo hức như việc gói bánh chưng những ngày tết vậy ...
Còn tôi, đêm nay đón tiết Thanh minh bằng một ấm trà xanh và gió lạnh cuối mùa. Lâu rồi không ngồi thư giãn, pha trà Tân Cương và thưởng thức vị ngọt của Trà. Cái lạnh cuối mùa khiến tôi cảm thấy thèm một chút trà ấm. Thế là một mình mang trà ra pha và ngồi nghe Tân Nhàn hát "Sơn nữ dâng trà" để bỗng nhớ về những phút giây ấn tượng của Festival trà Quốc tế Thái Nguyên năm 2011 đã qua. Liên hoan trà đi qua nhưng dư âm vẫn để lại trong mỗi người con quê hương trà Việt - Thái Nguyên như tôi những niềm vui, niềm hạnh phúc khi một đặc sản ẩm thực có nguồn gốc nông nghiệp được tôn vinh lên tầm quốc tế.
"Anh về thăm quê hương em
Đất Thái Nguyên quê hương trà Việt
Có dòng sông Cầu nên thơ
Thắm tình em bên nương chè bát ngát

Anh về thăm quê hương em
Uống trà xanh ngắm trăng thanh bình
Có cô sơn nữ chung tình
Xin dâng trà mời anh ...."
(Hồng Hiến)
Phút thanh bình của tâm hồn với chén trà xanh ấm ngọt và cùng chia tay mùa lạnh, mùa rét năm nay. Sau đợt rét này, quê hương yêu dấu sẽ sang mùa hè với ve kêu, phượng nở, nắng vàng ...
Chu Hồng Đông

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

NẾU CHỈ CÒN ... THÌ ...

Đêm qua, H gọi điện cho tôi rất muộn. Khi ấy là 12h kém. Lệ thường lúc ấy tôi đã ngủ say lắm rồi, vốn chi cả tuần nay, cái men gan tăng một cách quái gở cứ dấn chìm tôi trong giấc ngủ, lúc nào cũng li bì như kẻ vừa lao động kiệt sức thèm ngủ… Tôi mắt nhắm, mắt mở bốc điện thoại lên “A lô …”. Tiếng H bắt đầu nói. Câu chuyện qua giọng nói của H cho tôi nhiều ám ảnh về số phận con người. Tôi thì vẫn biết số phận con người đại đa phần mong manh cả. Sinh - Tử chẳng ai quyết định được bao giờ. Đôi khi trong cuộc sống hối hả này có bao giờ bạn đặt ra giả thuyết “Nếu chỉ còn một ngày để sống” và điền nốt vế câu còn lại “Thì …” bạn sẽ làm gì? Thế giới này khoảng 7 tỷ người sẽ có 7 tỷ cách điềm vào dấu ba chấm kia các mệnh đề khác nhau. Tôi chỉ là một con số rất rất nhỏ trong 7 tỷ ấy vẫn mạnh dạn điền cho mình một vế câu thật ngắn. “Tôi chọn sống tốt với mọi người” Hay nói như ý thơ của tác giả TĐL thì:
Vô thường quy luật của muôn đời
Còn lại tình thương rãi muôn nơi
Mai ngày thân xác thành tro bụi
Chẳng tiếc thương chi chẳng ngậm ngùi
Nếu như khi sống ta xác định quy luật “Sinh - Tử” là vô thường và bằng trái tim nhân hậu “rãi” tình thương yêu con người đến muôn nơi thì một mai thân xác có về làm tro bụi cũng chẳng còn gì để “tiếc thương” với “ngậm ngùi".
Trên quan điểm của mình, H - thì nói với tôi đời người như hạt cát dưới đáy sông.  Cát và nước cùng chảy, cùng tìm ra biển lớn. Nhưng cát thì âm thầm trôi, âm thầm sống, âm thầm cống hiến những mảnh phù sa cho đời. Cát có một đời sống trầm và kín nhưng ý nghĩa.
Câu chuyện cứ thế trôi đi trong đêm vắng. Những tranh cãi về lý tưởng sống mà rút cục vẫn không gì hơn là: sống tốt và sống có ý nghĩa dù cho ngày mai, chỉ còn một ngày "để sống" đi chăng nữa. Rồi ai mà chẳng trở về làm cát bụi. Sao không là hát cát có ích cho đời nhỉ?! Làm mảnh đất để nuôi sống con người, nuôi sống tình người ...
Thái Nguyên, đêm ngày 18 tháng 3 năm 2012

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

THÊNH THANG GIÓ NÚI BA VÌ, HÀ TÂY ...

Dù bây giờ thì tên gọi Hà Tây chỉ còn trong ký ức của nhiều người. Lớp trẻ sau này nữa thì chắc hẳn sẽ không biết đến tên gọi ấy, nếu không lần về cùng lịch sử vì từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ địa giới của tỉnh Hà Tây cũ được sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội (Riêng xã Tân Đức được tách ra khỏi huyện Ba Vì, sáp nhập vào thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 14 tháng 7 năm 2008). Tôi không định mạn bàn về địa lý hay lịch sử mà chỉ định viết lên đây về kỷ niệm một chuyến đi về huyện Ba Vì, Hà Tây cũ và Hà Nội ngày nay ...
Tôi vẫn luôn được mẹ nhắc nhở rằng quê ngoại gốc của tôi ở huyện Phú Xuyên, Hà Tây, dù sau này nhà ngoại đã di chuyển lên vùng cao Lạng Sơn, rồi sau này là về cao nguyên Lâm Đồng. Nói vậy, nhưng những lần được thực sự sống trên đất Hà Tây của tôi đếm trên đầu ngón tay chưa hết một bàn tay. Có lẽ vì tôi là người ít thích di chuyển và không sống theo "chủ nghĩa dịch chuyển" nên chuyến đi về Ba Vì, Hà Tây này được tôi mong đợi rất nhiều. Dù tôi biết giữa hai huyện Ba Vì và Phú Xuyên không có nhiều điểm tương đồng. Ba Vì là một huyện bán sơn địa, còn Phú Xuyên là một huyện thuần túy đồng bằng.
Xe của đoàn tôi dời thành phố Thái Nguyên lúc 6h00và đến 9h20 thì đến đất thị xã Sơn Tây, ngược lên Ba Vì, điểm dừng chân đầu tiên của đoàn là mảnh đất thiêng K9.
K9 theo cách gọi phổ thông mà nhiều người biết gắn với 2 sự kiện lịch sử: Thứ nhất đây là căn cứ bí mật của Trung ương Đảng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thứ nhì nơi đây đã gìn giữ và bảo quản thi hài của Bác từ năm 1969 đến 1975. Cái tên K9 được bắt đầu bằng một lần Bác Hồ đi thăm Sư đoàn 316 đang diễn tập bên sông Đà vào năm 1956. Bác dừng chân nghỉ ăn cơm trưa ở đây, thấy khí hậu mát mẻ, địa thế hiểm trở, phong cảnh đẹp, Bác đã chọn vị trí này làm khu căn cứ của Trung ương đề phòng giặc Mỹ có thể leo thang chiến tranh ra miền Bắc. Ngay sau đó, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ khảo sát, thiết kế và xây dựng một ngôi nhà làm nơi họp, làm việc, nghỉ ngơi của Bác Hồ và Bộ Chính trị. Ðến năm 1960, công trình được hoàn thành, đưa vào sử dụng và gọi tên là K9. Năm 1969, sau khi Bác mất, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đưa thi hài Bác lên đây để cất giữ và bảo quản. Đến năm 1975, thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới được chuyển về thủ đô, đưa vào lăng. Do vậy, nơi này còn có một tên khác ít người biết đó là K84.
Nhà làm việc của bác Hồ và Bộ Chính trị.
Phòng nghỉ của Bác đơn sơ với giường và bàn ghế. Cửa sổ bằng lưới sắt để lấy không khí trong lành và chống côn trùng bay vào trong.
Ba hòn đá chông "Chồng - Vợ - Con". Nơi mà ngày 23 tháng 2 năm 1958, Bác đã đích thân cùng đồng chí Vũ Kỳ và đồng chí Nguyễn Lương Bằng đi khảo sát địa hình; Buổi trưa dừng lại ăn cơm trưa ở đây và Bác quyết định chính thức sẽ xây căn cứ bí mật nơi này.
Ba chiếc xe được dùng để phục vụ đưa thi hài Bác từ Hà Nội lên K9 và ngược lại. Gần trưa, đoàn tôi đã kết thúc một vòng thăm quan quanh K9, được tận mắt nhìn những hiện vật lịch sử của vùng đất địa linh K9. Bữa cơm trưa trong trại lính mang hương vị của lính mà ăn thấy thật ngon. Có lẽ cả đoàn đã thấm mệt vì đường dài và cả hành trình đi bách bộ quanh khu trại nữa. Chia tay K9 đoàn xuôi về vườn Quốc gia Ba Vì, vượt những con đèo quanh co trong mù sương để đến khu nhà thờ Bác và Đền Thượng - thờ thánh núi Tản Viên.
Cổng lên nhà thờ Bác trên ngọn núi cao nhất Ba Vì - đỉnh Vua, ở độ cao 1.296m. Dù đã chuẩn bị tinh thần là leo lên đỉnh núi, tôi vẫn không hình dung ra đường lên lại dốc ngược và khắc nghiệt như thế. Quá mù hóa mưa, từng đợt gió khiến tai ù ù và tạt vào người khí ẩm tê lạnh. Nhưng cái háo hứng được lên non thiêng thắp hương tưởng nhớ Bác, được chinh phục đỉnh cao cho tôi thêm sức mạnh để đến được đỉnh núi. Và đúng như thơ Người viết " Núi cao lên đến tận cùng. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non" từ trên đỉnh núi cao nhất này có thể bao quát nhìn về bốn bề non sông đất nước được.
Ðền Bác được thiết kế và xây dựng theo kết cấu bền vững, phong cách đậm đà bản sắc dân tộc, uy nghiêm mà ấm cúng và cũng toát lên sự giản dị như ngôi nhà sàn nơi Người đã sống và làm việc. Bức tượng đồng Bác đang ngồi đọc Báo đặt trên bệ đá ở chính giữa nơi đặt bàn thờ trong đền. Trên cao là cờ Tổ quốc ghép bằng đá hoa cương mầu đỏ, phía dưới về hai bên phải, trái là chuông đồng và khánh đồng. Tất cả tạo nên một tổng thể hài hòa thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của ngôi Đền, của anh linh Bác. Một nén tâm hương của con cháu kính dâng lên Người, tôi ngồi nghỉ lại trong chốc lát rồi lại theo hành trình xuống núi sang Đền Thượng.
Hành trình lên Đền Thượng dù thấp hơn Đỉnh núi Vua nhưng cũng đầy khắc nghiệt. Dốc đá dựng đứng, quanh co, mưa trơn đường ướt. Sau một hồi vất vả, tôi cũng đến được cửa Đền. Đền Thượng là một ngôi đền gồm ba gian hai trái, một nửa mái sau Đền là vách đá, không có mái, kết cấu công trình làm bằng bê tông xi măng theo kiểu kiến trúc xà, cột. Phần mái được lợp bằng ngói mũi hài với đầu đao cong vút. Hai tường hồi bố trí hai vòng tròn sắc không đối diện nhau mô phỏng biểu tượng của nhà Phật. Trên ban thờ Thánh Tản Viên – Sơn Tinh có một khám thờ trong có ba ngôi tượng đá cổ, mỗi pho tượng được tạc ở ba tư thế khác nhau tượng trưng cho Sơn Tinh, Thái Bạch Thần Tinh và Quý Minh đại vương. Làm xong phần lễ nơi Đền Thượng tôi tiếp tục đường lên đỉnh núi, chừng 50m nữa để đến bên tượng Thánh Mẫu đặt nơi đất bằng trên đỉnh núi. Thỉnh ba hồi chuông, xin Mẫu từ bi chứng cho lòng con ở phương xa có dịp về bên Mẫu. Tôi cảm thấy lòng thực sự thanh thản, hạnh phúc dù lúc này con đường xuống núi vẫn còn dài và trơn ướt.
Non thiêng Tản viên, đất linh K9 của huyện Ba Vì, Hà Tây (Hà Nội) đã một lần ghi lại trong tôi nhiều cảm xúc.
Tôi đến Tản Viên một chiều xuân
Non thiêng núi biếc cõi thoát trần
Đền trên đỉnh núi trầm chuông mõ
Thấm mệt mà lòng chẳng chồn chân
Chu Hồng Đông, Ba Vì, Hà Tây (Hà Nội) ngày 3 tháng 3 năm 2012.
Viết nhân chuyến hành hương về Nguồn tháng 3 - 2012